Tủ sách doanh trí
Toàn cầu hóa và những mặt trái - Tác giả Joseph E. Stiglitz

Năm 1993, tôi rời khỏi lĩnh vực học thuật và chuyển sang làm việc cho Hội đồng cố vấn kinh tế dưới quyền tổng thống Bill Clinton. Sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy, đây là bước đột phá lớn đầu tiên của tôi vào lĩnh vực hoạch định chính sách và hơn thế, vào lĩnh vực chính trị. Từ vị trí đó, tôi lại chuyển sang Ngân hàng Thế giới vào năm 1997, nơi tôi đảm nhiệm chức vụ Kinh tế trưởng và Phó chủ tịch cao cấp trong vòng gần 3 năm, trước khi ra đi vào tháng 1.2000. Tôi không thể chọn thời điểm nào tốt để tham gia vào việc hoạch định chính sách hơn thời điểm đó. Tôi đã ở Nhà Trắng khi nước Nga bắt đầu quá trình chuyển đổi từ một nước cộng sản và tôi đã làm việc tại Ngân hàng Thế giới đúng thời gian cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á nổ ra và sau đó lan tràn khắp thế giới. Tôi đã luôn hứng thú với chủ đề phát triển kinh tế và những gì được chứng kiến đã thay đổi mạnh mẽ quan điểm của tôi về cả toàn cầu hóa và phát triển. Tôi viết cuốn sách này từ khi tôi còn đang làm việc ở Ngân hàng Thế giới và đã trực tiếp chứng kiến những tác động tàn phá của toàn cầu hóa lên các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo trong số này. Tôi tin rằng toàn cầu hóa - sự dỡ bỏ các hàng rào dẫn đến tự do thương mại và sự hội nhập mạnh mẽ hơn của các nền kinh tế quốc gia - có thể là một sức mạnh thúc đẩy có khả năng nâng cao mức sống của mọi người trên thế giới, đặc biệt là người nghèo. Nhưng tôi cũng tin rằng, để được như thế, cách thức tiến hành toàn cầu hóa, bao gồm cả các hiệp định thương mại quốc tế đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc dỡ bỏ những hàng rào thương mại và những chính sách đã được áp đặt lên các nước đang phát triển trong quá trình toàn cầu hóa cần phải được suy xét lại một cách triệt để.

Là một học giả, tôi đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu và suy nghĩ về các vấn đề kinh tế và xã hội mà tôi phải xử lý trong suốt bảy năm làm việc tại Washington. Tôi tin rằng điều quan trọng là phải nhìn nhận các vấn đề một cách tỉnh táo, không thiên vị, gạt bỏ những hệ tư tưởng sang một bên và nhìn vào những bằng chứng trước khi quyết định đâu là phương án hành động hợp lý nhất. Thật không may, dù không mấy ngạc nhiên, trong thời gian tôi ở Nhà Trắng với tư cách là một thành viên và sau đó là Chủ tịch của Hội đồng cố vấn kinh tế (một hội đồng 3 chuyên gia do tổng thống bổ nhiệm để cố vấn về kinh tế cho chính phủ Mỹ) và thời gian ở Ngân hàng Thế giới, tôi đã thấy các quyết định được đưa ra trên cơ sở chính trị và hệ tư tưởng. Kết quả là, nhiều quyết định sai lầm đã được thực hiện, những quyết định không giải quyết được các vấn đề đang gặp phải nhưng phù hợp với lợi ích hay niềm tin của những người có quyền lực. Một trí thức Pháp, Pierre Bourdieu, đã từng viết về sự cần thiết của việc các nhà chính khách hành xử như những học giả và tham gia vào các tranh luận khoa học, dựa trên các số liệu và chứng cứ vững chắc. Thật đáng tiếc, điều ngược lại lại xảy ra thường xuyên, khi mà giới học giả tham gia cố vấn chính sách bị chính trị hóa và bắt đầu bẻ cong chứng cứ để phù hợp với quan điểm của những người có quyền.

Nếu như nghề nghiệp khoa học của tôi không trang bị cho tôi toàn bộ kiến thức để xử lý các vấn đề gặp phải khi làm việc tại Washington, DC, ít nhất nó cũng dạy tôi kiến thức và cách làm việc chuyên nghiệp . Trước khi vào Nhà Trắng, tôi đã dành thời gian cho hoạt động nghiên cứu và viết về các vấn đề kinh tế học trừu tượng (giúp phát triển một nhánh kinh tế học mà sau đó được gọi là kinh tế học thông tin), và cho các chủ đề kinh tế ứng dụng, bao gồm kinh tế học khu vực công, kinh tế phát triển và chính sách tiền tệ. Tôi đã dành hơn hai mươi lăm năm viết về các chủ đề như phá sản, cơ cấu quản trị doanh nghiệp, mức độ công khai và tiếp cận thông tin (cái mà các nhà kinh tế gọi là sự minh bạch ). Đó là những vấn đề cốt yếu vào thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra năm 1997. Tôi cũng tham gia trong gần hai mươi năm vào những thảo luận liên quan đến sự chuyển đổi kinh tế từ mệnh lệnh sang kinh tế thị trường. Kinh nghiệm của tôi về cách thức tiến hành sự chuyển đổi ấy bắt đầu năm 1980, khi tôi lần đầu tiên trao đổi chủ đề này với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, khi nước này đang bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Tôi đã ủng hộ mạnh mẽ cho chính sách chuyển đổi cải lương (dần dần) của Trung Quốc, chính sách đã thể hiện ưu điểm trong hơn hai thập kỷ qua; và tôi cũng chính là người phê bình gay gắt vài trong số những chiến lược cải cách cực đoan, chẳng hạn như "liệu pháp sốc", chiến lược đã thất bại thảm hại ở Nga và một số nước thuộc Liên Xô cũ.

Sự quan tâm của tôi tới các vấn đề phát triển bắt đầu thậm chí từ trước nữa, khi tôi ở Kenya làm công tác nghiên cứu (1969-71), một thời gian ngắn sau khi nước này giành được độc lập vào năm 1963. Một số công trình lý thuyết quan trọng nhất của tôi đã bắt nguồn cảm hứng từ những điều tôi đã chứng kiến tại đây. Tôi biết Kenyaphải đối mặt với những thách thức lớn nhưng tôi hy vọng là có thể làm gì đó để cải thiện cuộc sống của hàng tỷ người ở đây và ở trên toàn thế giới, những người đang sống trong tận cùng nghèo đói. Kinh tế học có vẻ như là một khoa học khô khan, bí hiểm nhưng thực tế, những chính sách kinh tế tốt có sức mạnh để thay đổi cuộc sống của hàng tỷ người nghèo. Tôi tin tưởng rằng các chính phủ cần và có thể thực hiện những chính sách giúp đất nước mình tăng trưởng nhưng cũng đảm bảo những thành quả tăng trưởng đó được chia sẻ công bằng hơn. Lấy một ví dụ cụ thể, tôi tin vào tư nhân hóa (chẳng hạn, bán các công ty độc quyền của chính phủ cho tư nhân), nhưng chỉ khi điều đó giúp các công ty trở nên hiệu quả hơn và giảm giá cho người tiêu dùng. Điều đó thường xảy ra nếu thị trường có tính cạnh tranh và đó cũng là một trong những lý do giải thích vì sao tôi ủng hộ các chính sách cạnh tranh mạnh mẽ.

Ở cả Ngân hàng Thế giới và Nhà trắng, có sự liên hệ gần gũi giữa những chính sách mà tôi ủng hộ với những nghiên cứu, phần nhiều là kinh tế lý thuyết trước đây của tôi. Hầu hết các nghiên cứu đó liên quan đến sự không hoàn hảo của thị trường- tại sao thị trường không hoạt động hoàn hảo, theo cách mà các mô hình kinh tế đơn giản hóa với giả định cạnh tranh hoàn hảo và thông tin hoàn hảo khẳng định. Tôi đưa vào quá trình hoạch định chính sách những kết quả nghiên cứu của tôi trong kinh tế học thông tin, cụ thể là vấn đề thông tin không cân xứng - sự khác nhau giữa thông tin của, chẳng hạn, ông chủ và người làm thuê, người cho vay và người đi vay, công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm. Những bất cân xứng đó phổ biến trong tất cả các nền kinh tế. Công trình này cung cấp nền tảng cho những lý thuyết thực tế hơn về lao động và thị trường tài chính, giải thích, chẳng hạn, tại sao thất nghiệp lại tồn tại và tại sao người cần vay tiền nhất lại không được vay - nghĩa là, nói theo thuật ngữ kinh tế, có sự hạn chế tín dụng (credit rationing). Những mô hình chuẩn mà các nhà kinh tế đã dùng hàng thế hệ cho rằng hoặc là thị trường hoạt động hoàn hảo- một số người thậm chí còn bác bỏ sự tồn tại của thất nghiệp - hoặc lý do duy nhất gây ra thất nghiệp là tiền lương quá cao. Điều này đưa đến giải pháp cho thất nghiệp là: hạ thấp tiền lương. Kinh tế học thông tin, với công cụ phân tích thị trường lao động, tín dụng và hàng hóa tốt hơn, cho phép xây dựng những mô hình kinh tế vĩ mô cung cấp sự hiểu biết sâu sắc hơn về thất nghiệp, giải thích sự giao động, suy thoái và khủng hoảng gắn liền với chủ nghĩa tư bản ngay từ những ngày đầu. Những lý thuyết đó có những hàm ý chính sách mạnh mẽ - một số hàm ý là hiển nhiên với bất kỳ ai tiếp xúc thường xuyên với thế giới thực tại- chẳng hạn, nếu bạn nâng lãi suất đến mức thái quá, các hãng có tỷ lệ nợ cao có thể bị buộc phá sản, và điều đó không tốt cho nền kinh tế. Trong khi tôi nghĩ rằng điều đó quá rõ ràng, những chính sách đó lại trái ngược với những chính sách mà Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thường đòi hỏi.

Những chính sách của IMF, một phần dựa vào giả định lỗi thời là các thị trường tự thân nó sẽ đưa tới hiệu suất và hiệu quả, không cho phép các chính phủ can thiệp có hiệu quả vào thị trường, các biện pháp can thiệp mà có thể dẫn dắt tăng trưởng và làm cho mọi người sống khá hơn. Cốt lõi ở đây, điều mà trong nhiều tranh luận tôi sẽ trình bày ở các trang sau, là vấn đề hệ tư tưởng và những quan niệm về vai trò của chính phủ sinh ra từ hệ tư tưởng đó.

Mặc dù những tư tưởng đó có vai trò quan trọng trong hình thành chính sách phát triển, kiềm chế khủng hoảng, và chuyển đổi kinh tế, chúng cũng đóng vai trò trung tâm trong suy nghĩ của tôi về cải cách các tổ chức quốc tế chịu trách nhiệm thúc đẩy phát triển, kiềm chế khủng hoảng và hỗ trợ chuyển đổi kinh tế. Nghiên cứu của tôi về thông tin khiến cho tôi dành sự chú ý đặc biệt đến những hậu quả của việc thiếu thông tin. Tôi vui mừng khi nhận thấy sự tập trung vào vấn đề minh bạch trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 1997-1998. Nhưng tôi lại buồn vì sự đạo đức giả của các tổ chức quốc tế, IMF và Bộ Tài chính Mỹ, những cơ quan đã nhấn mạnh tính minh bạch ở Đông Á nhưng lại là những cơ quan kém minh bạch nhất mà tôi từng gặp. Đó là lý do tại sao trong thảo luận về cải cách, tôi nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường tính minh bạch, cải thiện thông tin mà các công dân có được về những hoạt động của các tổ chức này, cho phép những ai bị ảnh hưởng bởi các chính sách có tiếng nói lớn hơn trong việc hoạch định các chính sách đó. Sự phân tích về vai trò của thông tin trong các tổ chức chính trị đã hình thành và phát triển khá tự nhiên trong các công trình trước đây của tôi về vai trò của thông tin trong kinh tế.

Một trong số những điều thú vị khi đến làm việc ở Washingtonlà cơ hội không chỉ tích lũy hiểu biết tốt hơn về cơ chế làm việc của chính phủ mà còn có thể đề xuất một đưa vào áp dụng một số kiến thức mà các nghiên cứu của tôi đã chỉ ra. Chẳng hạn, là chủ tịch hội đồng cố vấn kinh tế của chính quyền Clinton, tôi đã cố gắng định hình các chính sách và triết lý kinh tế trong đó coi thị trường và chính phủ là bổ sung cho nhau, cả hai cùng hợp tác với nhau và thừa nhận rằng mặc dù thị trường là trung tâm của nền kinh tế, chính phủ vẫn đóng vai trò quan trọng, mặc dù có thể có hạn chế. Tôi đã nghiên cứu thất bại của cả thị trường và chính phủ và không ngây thơ đến mức tin rằng chính phủ có thể sửa chữa được mọi thất bại thị trường. Ngược lại, tôi cũng không ngốc nghếch tin rằng thị trường tự bản thân nó có thể giải quyết mọi vấn đề xã hội. Bất bình đẳng, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường là những vấn đề chính phủ phải đóng vai trò quan trọng. Tôi đã nghiên cứu sáng kiến "tái sáng tạo chính phủ" - làm chính phủ trở nên hiệu quả và đáp ứng tốt hơn. Tôi đã thấy những chính phủ không hiệu quả và cũng không đáp ứng tốt. Tôi đã thấy cải cách khó như thế nào; nhưng tôi cũng đã thấy rằng sự cải thiện, dù là khiêm tốn, là hoàn toàn có thể. Khi tôi chuyển tới Ngân hàng Thế giới, tôi đã hy vọng có thể đem đến một cách nhìn cân bằng, và mang những bài học tôi đã học được, để giải quyết những vấn đề phức tạp mà thế giới đang phát triển phải đối mặt.

Bên trong chính quyền Bill Clinton, tôi đã tham gia vào nhiều cuộc tranh luận chính trị, đã thắng vài cuộc và thua những cuộc khác. Là một thành viên nội các của tổng thống, tôi có được vị trí tốt để không chỉ quan sát các cuộc tranh luận, xem nó được giải quyết thế nào, đặc biệt là trong những lĩnh vực liên quan đến kinh tế, mà còn trực tiếp tham gia vào chúng. Tôi biết rằng hệ tư tưởng là quan trọng nhưng chính trị cũng vậy, và một trong những nhiệm vụ của tôi là thuyết phục người khác rằng những cái tôi ủng hộ không chỉ tốt về mặt kinh tế, mà còn tốt về mặt chính trị. Nhưng khi tôi chuyển sang vũ đài quốc tế, tôi nhận ra rằng chẳng có thứ nào trong hai thứ đó là quan trọng trong hoạch định chính sách, đặc biệt là tại IMF. Các quyết định được đưa ra trên cơ sở một sự lẫn lộn kỳ lạ giữa hệ tư tưởng và kinh tế học kém cỏi, những giáo điều đôi khi dường như bị che phủ bởi lợi ích cục bộ. Khi cuộc khủng hoảng nổ ra, IMF đã kê một đơn thuốc lỗi thời, không thích hợp nhưng "chuẩn mực" mà không thèm quan tâm đến những ảnh hưởng mà nó có thể có lên người dân ở các quốc gia được tư vấn sử dụng các chính sách này. Hiếm khi tôi thấy những dự báo chỉ ra rằng các chính sách này sẽ giúp giảm nghèo thế nào. Cũng hiếm khi tôi được thấy những thảo luận kỹ càng và các phân tích về hậu quả của các chính sách thay thế. Chỉ có một phương án. Các phương án khác không được tính đến. Thảo luận thẳng thắn, công khai không được khuyến khích - chẳng có chỗ cho chúng. Hệ tư tưởng đã chỉ đạo việc xây dựng chính sách và các nước được kỳ vọng là sẽ tuân theo những hướng dẫn của IMF mà không được bàn cãi.

Thái độ đó khiến tôi ghê sợ. Không phải vì các chính sách này thường có kết quả rất tồi, mà bởi vì điều đó là phản dân chủ. Trong cuộc sống cá nhân của chúng ta, chúng ta không bao giờ mù quáng đi theo các ý tưởng mà không tìm kiếm các lời khuyên khác nhau. Nhưng các nước trên toàn thế giới được chỉ bảo phải làm thế. Những vấn đề ở các nước đang phát triển thường rất khó, và IMF thường được gọi đến trong tình trạng xấu nhất, khi một nước gặp khủng hoảng. Nhưng phương thuốc của IMF lại thường thất bại, và thất bại nhiều hơn là thành công. Những chính sách điều chỉnh cơ cấu của IMF giúp các quốc gia điều chỉnh khi gặp khủng hoảng hay mất cân đối dai dẳng đã dẫn đến đói nghèo và bạo loạn ở nhiều quốc gia. Và ngay cả khi những hậu quả không khủng khiếp lắm, ngay cả khi đôi khi có tăng truởng trong chốc lát, thì những lợi ích thu được bị phân chia không đều có lợi cho người giàu và những người ở dưới đáy xã hội đôi khi thậm chí trở nên nghèo hơn. Tuy nhiên, điều làm tôi ngạc nhiên là nhiều người có quyền ở IMF, nhiều người đang đưa ra những quyết định quan trong, không hề đặt băn khoăn liệu những chính sách đó có tốt hay không. Thay vào đó, những chính sách này thường bị chất vấn bởi những người ở các nước đang phát triển. Nhưng nhiều người lại sợ rằng họ có thể bị mất nguồn tài trợ từ IMF và cùng với nó là nguồn tài trợ từ các tổ chức khác nên họ rất thận trọng khi tỏ ra nghi ngờ các chính sách này và sau đó chỉ bàn thảo một cách kín đáo với nhau. Nhưng trong khi không ai hạnh phúc khi phải chịu đựng những hậu quả thường theo sau các chương trình của IMF, trong lòng IMF người ta giản đơn cho rằng những chịu đựng chỉ là một phần của sự đau đớn mà các nước phải trải qua trên con đường trở thành một nền kinh tế thị trường thành công và rằng những biện pháp họ áp dụng thực tế làm giảm nỗi đau mà các nước phải gánh chịu trong dài hạn.

Không nghi ngờ gì, một số thay đổi đau đớn là cần thiết. Nhưng theo đánh giá của tôi, những đau đớn mà các quốc gia đang phát triển phải chịu trong quá trình toàn cầu hóa và phát triển theo chỉ dẫn bởi IMF và các tổ chức quốc tế là vượt quá mức cần thiết. Những cuộc bạo động chống toàn cầu hóa đã tập hợp sức mạnh không chỉ do sự tàn phá ở các nước đang phát triển do những chính sách dựa trên hệ tư tưởng gây ra mà còn do sự bất bình đẳng trong hệ thống thương mại toàn cầu. Ngày nay, rất ít người, trừ những kẻ được lợi từ việc ngăn cản hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển, bảo vệ sự đạo đức giả của việc giả vờ giúp các quốc gia dang phát triển bằng cách ép họ mở của thị trường cho hàng hóa của các nước phát triển trong khi bảo vệ thị trường của riêng họ. Đây chính là chính sách làm cho người giàu giàu hơn và người nghèo nghèo hơn và giẫn dữ hơn.

Cuộc tấn công tàn bạo ngày 11.9 đã cho thấy rõ một điều: chúng ta chia sẻ cùng một hành tinh. Chúng ta là một cộng đồng toàn cầu và mọi cộng đồng phải đều tuân theo một số luật lệ nào đó để có thể sống được với nhau. Những luật lệ này phải công bằng và do đó, phải quan tâm đúng mức đến cả những người nghèo khổ và những người có quyền lực, phải phản ánh bản chất văn minh và công lý xã hội. Trong thế giới ngày nay, luật pháp phải được xây dựng qua những quá trình dân chủ. Luật pháp mà theo đó các cơ quan quản lý và chính quyền hoạt động phải quan tâm và đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của những người bị ảnh hưởng bởi các chính sách và quyết định được đưa ra ở một nơi nào đó xa xôi.

Cuốn sách này được viết dựa trên chính những kinh nghiệm của tôi. Không có nhiều chú thích và trích dẫn như thường thấy trong các báo cáo khoa học. Thay vào đó, tôi cố gắng mô tả các sự kiện mà tôi đã chứng kiến và kể lại vài trong số những câu chuyện mà tôi đã nghe. Không có súng đạn ở đây. Bạn sẽ không tìm thấy những chứng cứ thuyết phục nào về âm mưu bẩn thỉu của phố Wall và IMF nhằm chiếm đoạt thế giới. Tôi không tin là cái âm mưu đó tồn tại. Sự thật tinh vi hơn thế nhiều. Thường là một tiếng nói của ai đó, hay một cuộc họp kín sau cánh cửa, hay một memo quyết định kết quả của các cuộc thảo luận. Rất nhiều người trong số người tôi chỉ trích sẽ nói là tôi sai. Thậm chí họ có thể tạo ra các bằng chứng chống lại quan điểm của tôi về những điều đã xảy ra. Tôi chỉ có thể đưa ra những lý giải về cái tôi đã thấy.

Khi tôi vào Ngân hàng Thế giới, tôi đã định dành phần lớn thời gian cho vấn đề phát triển và vấn đề của các nước đang cố gắng thực hiện quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và những tranh luận về cải cách cấu trúc tài chính quốc tế - hệ thống quản lý các hoạt động tài chính và kinh tế quốc tế - nhằm làm cho toàn cầu hóa mang tính người hơn, hiệu quả và công bằng hơn đã chiếm phần lớn thời gian của tôi. Tôi đã công hàng chục nước khắp thế giới, nói chuyện với hàng nghìn quan chức chính phủ, bộ truởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, giới học giả, những nhà phát triển, thành viên các tổ chức phi chính phủ, các nhà ngân hàng, nhà kinh doanh, sinh viên, các nhà hoạt động chính trị và nông dân. Tôi đã gặp các du kích Hồi giáo ở Mindanao (hòn đảo của Phillipine đã từ lâu trong trạng thái nổi loạn), đi dọc dãy Himalaya để thấy những ngôi trường ở vùng sâu Butan hay những dự án thủy lợi trong những ngôi làng ở Nepal, đã thấy ảnh hưỏng của các chương trình tín dụng nông thôn và các chương trình cho phụ nữ ở Bangladesh và đã chứng kiến tác động của các chương trình xóa đói giảm nghèo ở những ngôi làng trong những vùng núi nghèo nhất Trung Quốc. Tôi thấy lịch sử đang được viết và tôi đã học được rất nhiều. Tôi cố gắng chắt lọc những gì tinh tuý nhất trong những điều tôi đã thấy và đã học được và thể hiện chúng trong cuốn sách này.

Tôi hy vọng cuốn sách của tôi sẽ mở ra một cuộc tranh luận, một cuộc tranh luận đáng lẽ nên diễn ra không chỉ sau những cánh cửa đóng kín của chính phủ và tổ chức quốc tế, hoặc ngay cả trong không khí cởi mở của trường đại học. Những người mà cuộc sống của họ bị ảnh hưởng bởi các quyết định về cách thức tiến hành toàn cầu hóa có quyền tham gia vào cuộc tranh luận và họ có quyền biết các quyết định đó đã được đưa ra như thế nào trong quá khứ. Ít nhất, cuốn sách này phải cung cấp thêm thông tin về những sự kiện xảy ra trong thập kỷ vừa qua. Thêm thông tin chắn chắn sẽ giúp đưa ra các quyết định tốt hơn và các quyết định này sẽ dẫn đến các kết quả tốt hơn. Nếu điều đó xảy ra, tôi cảm thấy là tôi đã đóng góp được gì đó.

(Trích Lời nói đầu - sách do NXB Trẻ ấn hành tháng 4/2008, 366 trang, 64.000VNĐ)

(Nguồn: SachHay.com)

     
Một số dự án giáo dục
do PACE điều hành
Tủ sách doanh trí
Yukichi Fukuzawa - Tinh Thần Doanh Nghiệp Của Nước Nhật Hiện Đại
Phương thức dẫn đầu thị trường - Tác giả Michael Treacy & Fred Wiersema
Nhà lãnh đạo trong bạn - Tác giả Stuart R.Levine
Bộ sách "Đạo kinh doanh - Việt Nam & Thế Giới" (25 cuốn) - PACE biên soạn
Từ tốt đến vĩ đại - Tác giả Jim Collins
>> Xem tiếp
sổ tay doanh trí
Việt Nam
>> Xem tiếp
Thế giới
>> Xem tiếp